User Tools

Site Tools


0546-tr-ng-ph-i-la-gi

Tràng Phái là một xã thuộc huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam.

Xã Tràng Phái có diện tích 40,92 km², dân số năm 1999 là 3164 người,[1] mật độ dân số đạt 77 người/km².

Tràng Phái là một xã vùng II nằm ở phía Đông nam của  huyện Văn Quan, cách trung tâm huyện 18 km, tổng diện tích tự nhiên của xã là 4.090.91 ha. 

- Phía Bắc giáp xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan.

- Phía Nam giáp xã Mai Sao, huyện Chi Lăng.

- Phía Tây giáp xã Yên Phúc, huyện Văn Quan.

- Phía Đông giáp xã Tân Thành, huyện Cao Lộc.

Tràng Phái có 8 thôn bao gồm:

  1. Thôn Còn Riềng, giáp ranh với xã Tân Đoàn.
  2. Thôn Phai Làng, giáp ranh với thôn Tùng Tày, Còn Riềng,Còn Chuông, Bản Háu.
  3. Thôn Tùng Tày, giáp ranh với thôn Phai Làng, xã Tràng Các.
  4. Thôn Bản Háu, giáp với thôn Phai Làng, Nà Chanh.
  5. Thôn Nà Chanh, giáp với thôn Bản Háu, xã Tân Thành - Cao Lộc.
  6. Thôn Còn Chuông, giáp với thôn Phai Làng, Lùng Thúm.
  7. Thôn Lùng Thúm, giáp với thôn Còn Chuông, Túng Nọi.
  8. Thôn Túng Nọi, giáp với thôn Lùng Thúm, xã Yên Phúc.

có đường tỉnh lộ 239 và 240 chạy qua trung tâm, cùng các đường liên thôn đã được bê tông, bởi vậy đường giao thông tương đối thuận tiện cho các phương tiện đi lại giao lưu, trao đổi hàng hóa trong toàn xã cũng như bên ngoài địa bàn xã.

Đặc điểm kinh tế tự nhiên: Tràng Phái có tổng diện tích tự nhiên 4.091ha. Trong đó đất sản xuất nông lâm nghiệp là 2.891ha; đất trồng lúa 238ha chiếm 5,82% diện tích đất tự nhiên của xã, đất lâm nghiệp 2.457,7ha, còn lại là đất nương rẫy. Trên địa bàn có 03 đập thủy lợi có dung tích chứa khoảng 2,5 vạn m3 nước đảm bảo tưới cho 1/3 diện tích canh tác trồng lúa của toàn xã.

* Địa hình: Tràng Phái nằm trong vùng dãy núi phía nam của Huyện Văn Quan có  đỉnh núi cao nhất 732m, phân bổ ở phía Tây sau đó thấp dần về phía Đông, danh giới ở phía Đông cũng có một dãy núi cao hơn 600m,sau đó thấp dần về phía Tây, tạo thành thế lòng máng tại trục đường 239 chạy theo hướng Bắc – Nam.

Địa hình xen kẽ núi đá vôi và núi đất là các thung lũng. Vùng núi đã vôi chủ yếu phân bố ở phía Tây và phía Nam có độ cao trung bình từ 400m – 500m. vùng núi đất phân bố ở phía tây và vùng trung tâm xã, có độ cao trung bình từ 400m – 500m, độ dốc bình quân từ 20 – 2°C.

* Khí hậu Tỉnh Lạng sơn nói chung và xã Tràng phái nói riêng đều nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên thời tiết trong năm được phân thành 2 mùa rõ rệt.

- Mùa Đông: lạnh, hanh khô thường kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau.

- Mùa Hè: Nắng nóng và mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm.

Theo số liệu thống kê của Trạm khí tượng - Thủy văn Bắc Sơn khí hậu của xã có đặc điểm:

          + Nhiệt độ trung bình năm 21,6°C.

+ Nhiệt độ tháng cao nhất 38°C

+ Nhiệt độ tháng thấp nhất – 1°C.

* Thổ nhưỡng (đất đai)

 Xã Tràng phái nằm trên lòng chảo hai dãy núi đá vôi, gồm dãy núi theo hướng Đông Nam bắt nguồn từ Tràng phái tới Bắc sơn. Dãy núi theo hướng Bắc nam cũng từ Tràng phái đến Hữu lũng. Chính vì vậy cả xã có tổng diện tích đất tự nhiên 4.090,91ha, nhưng chỉ có 238 ha đất ruộng trồng lúa, còn đất đồi núi là 2.457,7ha, số còn lại là đất khác (nhưng chủ yếu là núi đá vôi) và được thể hiện ở bảng dưới đây.

Bảng 1.1: Phân bố diện tích đất đai của  xã Tràng Phái

STT Đất đai - thổ nhưỡng Diện tích (ha) Cơ cấu so với đất tự nhiên (%) Ghi chú
1 Đất nông nghiệp 2.891 70,7  
1.1 Đất Trồng lúa 238 5,82  
1.2 Đất lâm nghiệp 2.457,7 60,05  
1.2.1 Đất rừng sản xuất 1.950,5 47,1  
1.2.2 Đất rừng phòng hộ 507,2 12,4  
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 5,44 0,13  
2 Đất phi nông nghiệp 94,36 2,3  
3 Đất chưa sử dụng (chủ yếu Núi đá) 1.104,74 27  
  Tổng cộng: 4.091 100  

(Nguồn: Số liệu điều tra)

* Tài nguyên nước:

- Nguồn nước mặt: Xã có hệ thống hồ chứa nước lớn như: Hồ Kòn Tạng, Lọ Hin,….Tuy nhiên về mùa khô luôn trong tình trạng khô cạn nên gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.

- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của xã khá phong phú, nhưng chưa được khai thác.

- Lượng mưa trung bình năm là 1.482 mm/năm, nhưng tập trung nhiều ở mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm 82% lượng mưa của cả năm.

- Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 87% vào tháng 7,8; độ ẩm thấp nhất là 55% vào tháng 1,2 hàng năm.

- Tràng Phái chịu ảnh hưởng của 2 luồng gió chính là gió mùa Đông bắc và gió mùa Đông nam.

Nhìn chung với điều kiện khí hậu như trên rất phù hợp cho nhiều cây trồng như Hồi, cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày và một số cây lâm nghiệp bản địa... sinh trưởng và phát triển tốt.

* Nhân văn.

 Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội.

           Dân số, dân tộc và việc làm.

         . Dân số.

Xã Tràng phái có 8 thôn bản phân bố dọc theo tuyến tỉnh lộ 239 và huyện lộ 240. Toàn xã có tổng số 743 hộ với 3.292 khẩu, trong đó có 1.940 lao động chính chiếm 57 % tổng dân số. 

         . Dân tộc.

          Xã Tràng phái có 2 dân tộc chính cùng chung sống trên địa bàn, trong đó dân tộc Nùng chiếm 78%, dân tộc Tày chiếm 21%, các dân tộc khác chiếm khoảng 1%.

         . Lao động việc làm.

          Là xã thuần nông, lực lượng lao động chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ không đồng đều nên việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế vì vậy hiệu quả kinh tế thấp.

          Trong những năm gần đây do tác động của nền kinh tế thị trường, người dân nhìn thấy chỉ sản xuất nông nghiệp cho thu nhập không ổn định, nên đã phát triển thêm một số nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ như khai thác đá vôi sản xuất gạch bê tông, dịch vụ buôn bán nhỏ đã cho người dân có thêm thu nhập, tạo việc làm. Ngoài ra một số người dân ra ngoài địa bàn đi làm tại các khu công nghiệp... tạo thêm công ăn việc làm tăng thu nhập cho gia đình.

          Nhìn chung tình hình việc làm lao động trong toàn xã còn bấp bênh, chưa ổn định, thu nhập còn thấp. Về sản xuất chủ yếu tự phát, chưa hình thành vùng sản phẩm hàng hóa có thương hiệu, chất lượng nông sản chưa đáp ứng yêu cầu thị trường. Các ngành dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp phát triển nhỏ lẻ, chưa bền vững nên chưa tạo được việc làm ổn định cho người dân.

C. Cơ sở hạ tầng

          * Về Y tế: Trạm Y tế của xã được đầu tư xây dựng có diện tích khoảng 300m² có 01 bác sĩ, 05 y sĩ và 8 y tế thôn bản, trạm luôn trực và khám chữa bệnh cho người dân thường xuyên; hàng năm trạm vẫn duy trì và nâng cao chất lượng để đạt chuẩn tiêu chí Quốc gia về y tế xã trong giai đoạn mới hiện nay.

          *Về Giáo dục: Trên địa bàn xã có 03 trường học, trong đó: 01 trường Trung học cơ sở; 01 trường tiểu học và 01 trường Mầm non.

- Trường THCS xây dựng 2 tầng với tổng diện tích đất cả khuôn viên của trường là  5.715m2, với 157 em học sinh.

- Trường Tiểu học xây dựng 2 tầng với diện tích đất cả khuôn viên 4.538m2 với 170 em học sinh, trong đó có 2 phân trường.

- Trường mầm non mới tách năm 2011, hiện đang xây dựng các công trình với diện tích đất 980m2, tổng số có 195 cháu.

          Chất lượng giáo dục mấy năm gần đây số học sinh khá giỏi  hàng năm tăng, duy trì sĩ số chuyển lớp, chuyển cấp đạt 99%, trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường đạt 100%. Hiện nay các trường trên địa bàn xã luôn duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục.

* Giao thông:

Xã có hai tuyến đường giao thông chính được nhà nước đầu tư rải nhựa cấp phối chạy qua trung tâm xã là tỉnh lộ 239 và tỉnh lộ 240, các thôn trong xã đều nằm dọc hai tuyến đường này nên thuận tiện cho việc đi lại.

Về đường dân sinh, đường làng, ngõ xóm của xã có chiều rộng từ 1,5m đến 2,5m có chiều dài 20,8 km cơ bản đã bê tông hơn 70 % còn lại là nền đất cứng đi lại dễ dàng.

* Thuỷ lợi:

Tràng phái là xã có nguồn nước đặc biệt khó khăn, hệ thống Sông của xã không có, mà chỉ có một con Suối nhỏ ngắn nằm ở trung tâm xã và một số đập chứa nước. Nhìn chung thủy chế của con suối và các đập biến đổi theo mùa, lượng mưa nhỏ nên xã rất khó khăn về nguồn nước phục vụ tưới cho sản xuất cũng như phục vụ sinh hoạt cho người dân.

- Mương tưới chính: Dùng để tưới cho trồng lúa có chiều dài 10.760m được xây kiên cố bằng bê tông.

- Mương tưới khác: Có chiều dài 12.000 m là mương đất dùng để cung cấp nước tưới cho cây màu.

 - Cấp nước sinh hoạt: Nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt chủ yếu dùng nguồn tự chảy ở các khe sườn đồi, các giếng đào, nước mưa. Nguồn nước sản xuất theo hệ thống thuỷ lợi tự chảy từ các đập ngăn trữ nước và các nguồn nước mạch khác. Nhìn chung nguồn cung cấp nước sinh hoạt và cho sản xuất của xã do lưu lượng nước ít, chưa đủ cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất, còn thiếu nhất là vào mùa khô.

- Thoát nước:Địa hình của xã là đồi núi lòng chảo, không có sông nên việc thoát nước theo các con suối cạn chảy vào khe núi đi xuống các vùng thấp.

* Giao thông

* Về dân sinh, kinh tế- văn hóa: Toàn xã có 743 hộ, dân số 3.292 người gồm 2 dân tộc Tày, Nùng, cùng sinh sống theo từng cụm dân cư trên 8 thôn bản, nguồn thu nhập chính là trồng trọt và chăn nuôi.

Tràng Phái là xã vùng II, cách xa trung tâm huyện 17 km về phía Đông nam, nên trình độ dân trí các dân tộc còn chênh lệch, nên hạn chế nhiều mặt, như tập tục sinh hoạt cũng có chỗ khác nhau do vậy sự quản lý điều hành cũng gặp không ít khó khăn, nhất là khi chuyển đổi kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Kinh tế có điểm xuất phát thấp, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, sử dụng đất còn manh mún, hiệu quả thấp, kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ theo hộ, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Trong mấy năm gần đây thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, phát triển kinh tế đồi rừng đã xuất hiện nhiều hộ gia đình đầu tư trồng rừng và kinh doanh rừng có hiệu quả góp phần phát triển kinh tế xã hội, tạo ra nhiều việc làm, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

        Về văn hóa xã hội: Hàng năm tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao, đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, 100% thôn xây dựng và thực hiện theo hương ước, xã có 8/8 thôn có nhà văn hóa thôn, có 03 sân thể thao trong đó 02 sân cầu lông,01 sân bóng đá...; các chính sách xã hội được quan tâm triển khai thực hiện khá tốt như việc thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình liệt sĩ nhân dịp 27/7, tết Nguyên đán hàng năm, các chính sách đối với người có công được thực hiện thường xuyên, công tác đền ơn đáp nghĩa, bảo trợ xã hội, cứu trợ đột xuất được giải quyết kịp thời, công tác xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, công tác phòng chống các tệ nạn xã hội được quan tâm tuyên truyền thường xuyên gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo thông qua các chương trình, các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghề cho nông dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 31,14%.

. Quá trình hình thành và phát triển của cơ sở:

 Sau khi Thăng long thất thủ 1592 nhà Mạc chạy về Cao bằng trong thời gian từ 1593-1677 đã xây dựng thành nhà Mạc tại Lạng sơn để chống lại tiến công của Nhà Lê Trịnh. Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh Mạng thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831).

 Từ ngày 9 tháng 9 năm 1891 đến ngày 20 tháng 6 năm 1905, là Tiểu quân khu Lạng Sơn thuộc Đạo Quan binh II Lạng Sơn. Sau đó tái lập tỉnh.

 Ngày 7 tháng 6 năm 1949, huyện Lộc Bình của tỉnh Hải Ninh nhập vào tỉnh Lạng Sơn.

 Trong kháng chiến chống Pháp, Lạng Sơn thuộc Liên khu Việt Bắc. Năm 1950, tỉnh Lạng Sơn có 10 huyện: Bằng Mạc, Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Điềm He, Lộc Bình, Ôn Châu, Thoát Lãng, Tràng Định, Văn Uyên.

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, huyện Hữu Lũng của tỉnh Bắc Giang nhập vào tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc (được thành lập cùng ngày). Khu tự trị Việt Bắc tồn tại đến ngày 27 tháng 12 năm 1975.

         Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Điềm He cùng 6 xã của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Văn Quan; huyện Ôn Châu cùng 8 xã còn lại của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Chi Lăng; hợp nhất 2 huyện Văn Uyên và Thoát Lãng thành huyện Văn Lãng.Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975 đến ngày 29 tháng 12 năm 1978 nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng, rồi lại tách ra như cũ.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978 tái lập tỉnh Lạng Sơn, đồng thời sáp nhập huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh vào tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 17 tháng 10 năm 2002, chuyển thị xã Lạng Sơn thành thành phố Lạng Sơn 

  Văn Quan là huyện nằm ở trung tâm tỉnh Lạng Sơn, Văn Quan cách thành phố tỉnh lỵ khoảng 45 km về phía Tây Nam.

   Lịch sử hình thành

  Tháng 8/1964, huyện Văn Quan được thành lập bao gồm Châu Điềm He và 6 xã của Châu Bằng Mạc (Yên Phúc, Bình Phúc, Tú Xuyên, Lương Năng, Tri Lễ và Hữu Lễ).

  Ngày 27/12/1975, tỉnh Lạng Sơn nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng, Văn Quan trở thành huyện của tỉnh Cao Lạng.

  Ngày 29/12/1978, tỉnh Lạng Sơn tái lập, Văn Quan trở thành huyện của tỉnh Lạng Sơn.

  Ngày 30/1/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 22/HĐBT thành lập thị trấn Văn Quan (thị trấn huyện lỵ) trên cơ sở 768 ha của xã Xuân Mai, 132 ha của xã Vĩnh Lại và 268 ha của xã Đại An.

- Cuối thế kỷ XVIII xã Tràng Phái có từ Châu Văn Quan.

- Tên Tràng Phái không phải là tên một vị danh nhân nào đó, mà có thể thời bấy giờ người ta căn cứ vào địa hình trên bản đồ của xã có chiều dài từ Bắc xuống Nam, một bên là núi đá vôi, một bên là dãy núi đất và núi đồi trọc, có con đường mòn xuyên qua giữa. Do đó mới đặt cái tên là Tràng Phái.

 

0546-tr-ng-ph-i-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)