User Tools

Site Tools


0958-v-nh-l-i-l-m-thao-la-gi

Vĩnh Lại là một xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam. Đây là nơi sông Đà hội lưu với sông Hồng.

Xã có diện tích 10,28 km², dân số năm 1999 là 8.805 người,[1] mật độ dân số đạt 857 người/km².

Vĩnh Lại là một xã đồng bằng nằm ở phía nam huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam. Cách Trung tâm huyện Lâm Thao 11 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Việt Trì 7 km về phía Đông Bắc.

Xã Vĩnh Lại nằm ở phía nam huyện Lâm Thao, phía Đông giáp xã Cổ Đô (Ba Vì, Hà Nội (cách sông Hồng)), phía Tây giáp xã Tứ Xã, phía Tây Nam giáp xã Bản Nguyên, phía Bắc giáp xã Cao Xá.[2]

- Xã Vĩnh lại (địa danh). Theo từ điển Hán Việt, âm Vĩnh có 1 nghĩa, âm Lại có 10 chữ, 5 nghĩa. I. VĨNH, 永 (bộ thủy) mang nghĩa là lâu dài, vĩnh cửu. II. LẠI có: 1. 吏 (bộ khẩu口): viên quan, người làm việc cho nhà nước 2. 癩 / 癞 (bộ nạch疒): bệnh hủi, bệnh hói đầu 3. 徠/ 勑/徕 (bộ xích彳/bộ lực力/bộ xích): an ủi. 4. 賴/ 赖 (bộ bối貝): nhờ cậy, ích lợi 5. 籟/ 籁 (bộ trúc竹): cái tiêu

- Theo ý nghĩa 2 âm trên,

- Theo Thần phả xã Vĩnh lại viết về Tản Viên Sơn Thánh luyện quân chiến thắng và được phong phúc thần ở đất này;

- Theo thực tế, Tản Viên đã trở thành một trong tứ bất tử… Tạm suy đoán rằng, địa danh VĨNH LẠI mang nghĩa QUAN BẤT TỬ.

- Vĩnh Lại được thành lập từ ba làng: làng Lời, làng Văn Điểm và làng Trịnh xá. Xã có nghề truyền thống đan lưới, tuy nhiên gần đây không còn được phát triển. Vĩnh Lại có Đền Lời được xếp hạng di tích.

- Các di tích lịch sử văn hóa và các di tích chùa còn lưu giữ được thư tịch cổ Hán Nôm:

+ Bia chùa Kim Cương, xã Vĩnh Lại: Hưng công cấu tác (bia ghi việc hưng công tu tạo) lập năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông; Bia chùa Kim Cương (bia tứ diện), xã Vĩnh Lại lập năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.

+ Bia chùa Linh quang, xã Vĩnh Lại: Trùng tu Linh quang tự bi ký (ghi việc trùng tu chùa Linh Quang) lập năm Tự Đức thứ 33 (1880), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

+ Bia ghi giỗ hậu chùa Linh Quang, xã Vĩnh Lại lập năm Tự Đức thứ 33 (1880), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.

+ Chuông chùa Bồ Đề, xã Vĩnh Lại: Bồ Đề tự chung tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

+ Chuông chùa Linh Quang, xã Vĩnh Lại: Kỷ Hợi niên chế đúc năm Kỷ Hợi (?)

+ Chuông chùa Trình, xã Vĩnh Lại: Trình Xá tự chung tạo Minh Mệnh, năm 1821 (hiện đang lưu giữ tại Thư viện KHTH tỉnh)

+ Khánh chùa Kim Cương, xã Vĩnh Lại: Kim Cương tự, Khánh lục ký (khánh ghi chép công đức chùa Kim Cương) tạo năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), niên hiệu của vua Nguyễn Quang Toản.

+ Khánh chùa Phổ Quang, xã Vĩnh Lại: Phổ Quang tự khánh tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.

+ Mộc bản chùa Kim Cương, xã Vĩnh Lại lập năm Quý Mùi (1883).

+ Đền Lời: được xây dựng thời hậu Lê cuối thế kỷ 18. Đền thờ Ngũ Đạo Tướng Quân, Tản Viên Sơn Thánh và các tướng lĩnh thời Hùng Vương đã có công giúp Vua Hùng dẹp giặc giữ yên bờ cõi, xây dựng đất nước phát triển được nhân dân tôn thờ và phong là Hộ Quốc tế Công. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc, Đền Lời còn là nơi hoạt động bí mật của Đảng bộ, chính quyền địa phương. Năm 2004, Đền Lời được nhà nước xếp hạng di tích cấp Quốc gia tại Quyết định số 08/QĐ-BVHTT gày 23/2/2004. Để tỏ lòng thành kính tri ân công đức tổ tiên, vào ngày 15/2 âm lịch hàng năm xã Vĩnh Lại tổ chức Lễ tế chính cầu cho trời đất mưa thuận gió hòa, đồng ruộng tươi tốt, dân làng yên ấm, nhà nhà an khang thịnh vượng, đây còn là dịp để giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ.

- Trạng nguyên Vũ Duệ: Ông là người làng Trịnh Xá (Kẻ Chịnh), huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây (nay thuộc làng Trịnh Xá, xã Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) dưới thời vua Lê Thánh Tông, ông thi đỗ Trạng nguyên lúc 22 tuổi.

0958-v-nh-l-i-l-m-thao-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)