User Tools

Site Tools


2125--init-pent-x-t-la-gi

Đinitơ pentôxit là một oxit có công thức là N2O5, không bền và là một chất nổ. Đinitơ pentaoxit không tạo được từ phản ứng giữa Nitơ và Ôxi.

N2O5 được báo cáo lần đầu bởi Deville năm 1840, người đã điều chế nó bằng cách xử lý AgNO3 với Cl2.[2][3]:

2AgNO3 + Cl2 → 2N2O5 + O2 + 2AgCl

Một phương pháp tổng hợp phòng thí nghiệm đưa đến việc khử nước axit nitric (HNO3) với tetraphotpho đecaoxit:

[4]
P4O10 + 12 HNO3 → 4 H3PO4 + 6 N2O5

Trong quá trình đảo nghịch, N2O5 phản ứng với nước (thủy phân) để tạo ra axit nitric. Do đó Đinitơ pentôxít là anhydride của axit nitric:

N2O5 + H2O → 2 HNO3

N2O5 tồn tại dưới dạng tinh thể không màu thăng hoa một chút ở nhiệt độ trên nhiệt độ trong phòng. N2O5 cuối cùng phân hủy tại nhiệt độ phòng để trở thành NO2 và O2:

2N2O5 → 4NO2 + O2

[5]

N2O5 là oxit axit, cho nên N2O5 tác dụng với oxit bazo, bazo tạo thành muối và nước. Thí dụ :

N2O5 + 2LiOH → 2LiNO3 + H2O
N2O5 + Li2O → 2LiNO3

Ngoài ra, N2O5 còn đẩy được gốc anion của axit yếu ra khỏi muối của nó và tạo thành muối nitrat và oxit axit tương ứng. Thí dụ .

CaCO3 + N2O5 → 2Ca(NO3)2 + CO2

Tuy nhiên, axit nitric có thể bị axit yếu hơn đẩy ra khỏi dung dịch muối của nó nếu tạo thành muối không tan tương ứng. Thí dụ:

H3PO4 + Al(NO3)3 → AlPO3 + 3HNO3

N2O5 rất độc, khi khi rơi vào da sẽ làm da bị bỏng nặng. N2O5 khi tác dụng với nước, kim loại có thể gây nổ. Nhiều hợp chất hữu cơ hoặc hợp chất vô cơ bị bốc cháy hoặc phá hủy khi tiếp xúc với N2O5 trong không khí ẩm hoặc trong không khí khô, tuy nhiên tốc độ phá hủy hoặc bốc cháy các hợp chất hữu cơ hoặc hợp chất vô cơ khi tiếp xúc với N2O5 trong không khí khô chậm hơn nhiều so với tốc độ phá hủy hoặc bốc cháy các hợp chất hữu cơ hoặc hợp chất vô cơ khi tiếp xúc với N2O5 trong không khí ẩm.

2125--init-pent-x-t-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)